Lai lịch vỉnh truyền
Triệu khải hiền thượng niệm Thỉ tổ khảo Tề quận Đàm Quý Công tự thiên nhơn phủ quân chi thần tục danh Đàm Văn Độn.
Thỉ tổ khảo bổn nhơn tại Làng Ông Mặc xã, Cổ mặc phường, Từ Sơn phủ, Bắc Ninh tỉnh. Nay là thôn Hương Mặc, xã Hương Mặc, huyện Từ Sơn - Tỉnh Bắc Ninh . Đải Lê triều Anh Tôn Hoàng Đế (vua Lê Anh Tông), niên hiệu Hồng Đức năm thứ 13- năm Tân Mùi 1671 thử thời Gia Dũ Hoàng Đế. Người cùng đoàn quân Nam tiến phò chúa Nguyễn Hoàng nhậm chấn Thừa Thiên - Quãng Nam đẳng xứ. Trong lúc theo hộ tống thử Triều, Thỉ tổ lai trạch tư thổ thấy cảnh non sông tươi đẹp nên dừng chân lập Ấp qui dân, xây dựng làng mạc và đặt tên xã hiệu là Mỹ Khê (nay thuộc Phường Phước Mỹ, Quận Sơn Trà - Thành Phố Đà Nẵng). Thỉ tổ lập ấp kiến cơ xây dựng Hương phong và sanh hạ tử tôn tại đây. Đến đời thứ 5, tức thời Lê Dụ Tông Đệ Ngũ niên (1709) thì Đệ Ngũ Đợi là Đàm Văn Chư cùng cao tổ Tỷ Trần Thị Lý sanh hạ được 6 người con là :
- Đàm Văn Kiên, tức Kiện
- Đàm Văn Gan
- Đàm Văn Khôi
- Đàm Thị Diểm
- Đàm Văn Phục
- Đàm Thị Được
Trong đó : Đàm Văn Gan, Đàm Văn Khôi, Đàm Văn Phục ra đi tha phương lập nghiệp không rõ tông tích. Di chỉ có Đàm Văn Kiên cư tại bổn xã gìn giữ Hương phong bảo ký tôn Tộc, sinh hạ con cháu kế tiếp các đời sau tiếp tục xây dựng quê hương.
Mãi đến đời Vua Gia Long đệ ngũ niên, tức năm 1806 kiến canh điền bộ thì tổ đời thứ 8 là Đàm Văn Thái được triều Gia Long phong làm xã trưởng đầu tiên ở làng Mỹ Khê và tiếp tục xây dựng Hương phong mỹ tục thiết lập Địa bộ ký giáp ranh cùng các xã bạn đều do xã trưởng Đàm Văn Thái ấn ký, nay di tích vẫn còn.
Trước đây trong thời buổi khai thiên lập địa xây dựng làng Mỹ Khê thì đình làng tọa lạc hướng Đông, cách bờ biển 100 thước và khu vực dân cư được chia ra làm 3 xóm là : xóm trên, xóm ngoài và xóm trong.
- Xóm trên Mỹ Lợi, từ sau Chùa Mỹ Khê chạy thẳng đến giáp Phước Trường và đặt tên đất là Lầu Chùa Xứ.
- Xóm ngoài Mỹ Thạnh, từ ngang mặt Chùa Mỹ Khê chạy giáp Khe Bà ra biển và đặt tên đất là Ngoại Tiểu Khê Xứ.
- Xóm trong Mỹ Hòa (nay là Mỹ Quang), từ ngang mặt Chùa Mỹ Khê chạy vào và đặt tên đất là Nội Tiểu Khê Xứ. Xóm nầy còn có các xứ đất nhở như : Coi Mõ Xứ; Vũng Nậy Xứ; Vũng Ngựa Xứ; Khe Méo Xứ.
Lúc bấy giờ, các tộc có ruộng đất được phân chia đứng bộ là Tộc Đàm, Tộc Nguyễn và Tộc Huỳnh. Sau khi tam thế cao tổ Đàm Văn Thái qua đời, tức sau triều Minh Mạng đến triều Tự Đức thì giòng tộc phai mờ dần dần do thất lạc nhau. Lúc bấy giờ Nguyễn Tộc trở nên hưng thịnh lên làm làng xã và bất đầu chuyển đình làng vào làm bên Chùa Mỹ Khê (cho đến ngày nay) và tự xưng là Nhứt Nguyễn - Nhì Đàm.
Tóm lại, sau cuộc đời của Tổ Thái thì Họ Tộc Ta phải nhượng bộ việc làng xã cho các Tộc khác đãm đương. Mãi đến đời Bảo Đại và trở về sau này Tộc Đàm ta luôn có người nối bước cha Ông đãm đương công việc làng xã cùng các Tộc bạn.
Sau gần 300 năm thất lạc, vào mùa thu năm Ất Sửu, (tức ngày 10 - 07 - 1985) sau khi sưu tầm lại được một Bổn Cựu Gia Phã do chính tay của Tổ Đàm Văn Thái sao chép từ thời Gia Long lục niên, thì các cháu Tự Tôn đời thứ 14 gồm :
- Đàm Văn Nhâm, tức Mực - nay đã chết
- Đàm Văn Keo - đang định cư tại Mỹ
- Đàm Quang Hưng - nay đã chết
- Đàm Văn Ký - nay định cư tại quê nhà
quyết định đi tìm kiếm bằng cách quan hệ các xã trong nội tỉnh và cho sưu tầm họp các phái chiếu phổ hệ để các nơi xá định ngôi thứ:
- Tổ thúc Đàm Văn Gan cùng con trai là Đàm Văn Ta đến khai cơ lập nghiệp tại Cổ Lưu liên xã Điện Nam.
- Tổ thúc Đàm Văn Khôi cùng 4 con trai là :
- Đàm Văn Lặn
- Đàm Văn Lội
- Đàm Văn Hay
- Đàm Văn Mưa
đến khai cơ lập nghiệp tại làng Hà Quãng, tức Điện Dương ngày nay
- Tổ thúc Đàm Văn Phục tự tường đến khai cơ lập nghiệp tại Mộ Đức và Nghĩa Hành Quãng Ngãi.
Nói chung, giòng Họ Tộc Ta được qui tụ xum họp lớn mạnh là do công đức của Tổ Thái đã để lại một Gia Phã tương đối đầy đủ. Sự đoàn kết nhất trí của Đại Tộc được thể hiện rộng rãi là kể từ ngày Đại Hội mở rộng của Đại Tộc được tổ chức kỳ I, ngày 26 tháng 3 năm 1986 - năm Bính Dần, tại Mỹ Khê - Phước Mỹ - Đà Nẵng.